Không chỉ có một chùa Keo

Nhắc đến tên chùa Keo, thường người ta nghĩ đến ngôi chùa Keo ở Thái Bình. Không mấy người biết đến ngôi chùa “Keo” khác thuộc xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định – Một ngôi chùa không có sư nhưng trải qua hàng trăm năm vẫn sừng sững uy nghi và được bao phủ thêm bởi những lớp lang huyền thoại.


chua-keo-41Chùa tọa lạc trên một khu đất cao nổi lên nơi đầu mom rô

(gò đất cao nơi cửa sông – TG), án ngữ bờ sông Hồng vào làng Hành Thiện.

Dấu tích đầu tiên của chùa Keo là ở làng Dũng Nhân (huyện Giao Thủy – Nam Định) (?). Năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang bên hữu ngạn sông Hồng. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa; đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi tất cả các dấu tích, cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải dời bỏ quê cha đất tổ, một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông Bắc tả ngạn sông Hồng (về sau dựng nên chùa Keo – Thái Bình); một phần xuống vùng Xuân Trường dựng chùa Keo (hay còn gọi là chùa Hành Thiện).

Bí ẩn lời nguyền

Trong sân chùa rộng mênh mông và hoang vắng, những mái chùa cong cong, cột, kèo nằm “trơ gan cùng tuế nguyệt”; cửa tam quan đóng im ỉm… Gác chuông hai tầng nằm lặng lẽ. Tất cả dường như đang chìm đắm trong giấc ngủ. Bà cụ bán hương, giấy vàng nơi cổng co rúm lại bên cạnh những cây cột lim đã lên nước. Biết tin có khách đến vãn cảnh chùa, ông Nguyễn Trường Lý từ trong xóm đi ra, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Sự im lặng của gỗ lạt, gạch ngói 400 năm được “cách ly” qua cánh cửa, một không gian thiền vỡ òa ào đến trong sự kinh ngạc của tôi. Theo lời ông thủ từ tên Lý, ông là đời thứ 20 được đảm nhiệm “chức vụ” thủ từ trông coi chùa. Những ông thủ từ trước đều đã về thiên cổ. Kể từ ngày chùa có mặt trên doi đất hình con cá chép này, mọi việc trông coi, trùng tu, lễ lạt nhất nhất đều do làng đảm nhiệm. Ngày lễ hội, ban quản lý chùa, đội bảo vệ toàn là những người do làng cắt cử. Ông chủ lễ được chọn phải là người có “tiêu chuẩn” đặc biệt: hai ông bà còn song toàn, được ăn yến lão (thượng thọ), gia đình văn hóa, không có tì vết… Ngay như đội bảo vệ thủ từ cũng phải là những người có “gốc tích”. Riêng thủ từ phải theo kiểu “cha truyền, con nối”. Đời cha truyền đời con, đời sau kế thừa đời trước.

Cũng như những ngôi chùa khác, nghĩa là chùa cũng bao gồm cổng tam quan, cung chùa Phật, đền thánh, đền thờ đức tổ sư… Trước cổng chùa cũng có hai cây đa cổ thụ ngót bốn trăm tuổi soi bóng xuống mặt hồ; hai dãy hành lang gồm bốn mươi gian gỗ lim, mái ngói vảy cá chạy dọc sân chùa lát gạch nghiêng, viên nào viên nấy cũng rắn đanh một màu lửa nung già dặn. ông Lý kể: Bố tôi kế nghiệp của ông nội; ông tôi thừa hành từ cụ cố… Đến đời tôi là đời thứ 7. Tất cả tên tuổi, ngày tháng của những ông thủ từ đều được ghi rõ trong cuốn “Hành Thiện xã chí”… Còn lý giải cho sự lạ của ngôi chùa “kỵ sư” này là huyền thoại truyền miệng trong dân gian. Truyền rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân làng nơi đây không mấy mặn mà với khói nhang, tượng phật. Đức Thánh tổ liền giận dữ rời chùa đi nơi khác. Trong một đêm, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, rồi tất cả tượng phật ngài đều cho cả vào đấy. Ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình. Tất cả tượng phật nằm trong rọ tre cũng rẽ nước theo ngài về nơi đất mới. Cũng nội trong đêm ấy, khi dân làng Duy Nhất (huyện Vũ Thư – Thái Bình) tỉnh giấc đã thấy ngôi chùa sừng sững mọc lên. Đức Thánh tổ rời bỏ chùa cũ cùng với lời nguyền: sẽ không có sư nào đến ở đất Hành Thiện. Theo lời nguyền đó, sau này, nhiều lần các vị sư theo sự phân công của Hội Phật giáo về trông coi chùa Hành Thiện, được dăm ba ngày chẳng hiểu vì lý do gì cũng đều khăn gói ra đi. Cũng từ đó, đất Hành Thiện “có tiếng” là đất kỵ sư. Câu chuyện truyền miệng ấy cứ tồn tại theo miệng nhân thế, nó làm cho ngôi chùa càng mang theo những nỗi niềm dã sử.

Giải mã

Về mặt quy mô, chùa Keo Thái Bình bề thế hơn nhiều so với chùa Keo Hành Thiện, thế nhưng về kiến trúc là sự mô phỏng gần như nguyên vẹn. Cả hai ngôi chùa đều được dựng bằng gỗ lim, liên kết với nhau bằng mộng ngậm, đinh tre, mộng vược… Sau gần một ngàn năm Bắc thuộc, từ thế kỷ 10, dân tộc ta giành quyền tự chủ, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ cả về chính trị và văn hóa. Thái Bình và Nam Định khi đó được coi là những vùng “kinh tế mới”, gắn với phong trào mở rộng dân cư, khai hoang, lấn đất lập nghiệp. Cùng với việc xây dựng cuộc sống vật chất của họ thì các nhà sư cũng đến đây để xây dựng đền chùa, đảm bảo cuộc sống tâm linh cho các cư dân vùng đất mới. Theo sử sách, vùng đất này có tên gọi là Keo hay vùng đất Giao Thủy, nơi nước sông gặp gỡ với nước sông, nước sông gặp với nước biển tạo nên những vùng hồ nước mênh mông. Trong cái khoáng đạt của tự nhiên như thế, con người phải đối mặt với biết bao thử thách, bao rình rập của tự nhiên, thú dữ. Người ta cần tìm đến những đấng bậc thần linh để được che chở về tinh thần. Đó cũng là lý do để những ngôi đền, chùa mọc lên với cường độ nhiều ở giai đoạn này. Còn căn cứ theo năm xây cất của chùa Keo Hành Thiện và chùa Keo Thái Bình, so sánh với năm sinh, năm mất của Thánh Không lộ Thiền sư có thể thấy được đó chẳng qua chỉ là sự mở rộng phạm vi truyền bá đạo phật của các bậc tăng ni trong dân chúng. Đức Thánh Không Lộ sinh năm 1016, mất năm 1094. Thời gian ngài sống gắn với việc xây cất chùa Keo trên đất Dũng Nhuệ (huyện Giao Thủy); sau này do trận lụt lớn năm 1611, chùa dời về đất Hành Thiện. Hơn 20 năm sau, chùa Keo Thái Bình mới được hoàn thành (năm 1632). Như thế, sự mở rộng về không gian đó chẳng qua là sự mở rộng phạm vi truyền bá của Phật giáo, do những bậc tăng ni hậu thế kế tiếp công việc của Thiền sư Không Lộ. Còn giải thích cho tích “chùa không sư Hành Thiện”, có chăng đó là do những chướng khí hay sự không hợp đất, hợp nước mà sinh ra đau ốm của những vị sư đã có lần đến với chùa rồi sau đó mau chóng ra đi!?

chua-keo-20
Giữa cảnh đất trời khoáng đạt, cái im ắng, tĩnh lặng mang đậm không khí thiền của chùa Keo Hành Thiện càng làm cho du khách hướng tới cõi tâm linh. Dẫu chùa không có các sư, các vãi chăm lo nhang khói, dẫu không khí có lạnh lẽo vì thiếu hơi hướng, bóng dáng con người… song người ta hướng tới phật bằng cõi tâm chứ đâu có câu nệ những cái thuộc về hình thức. Và trong cái điều đã trở thành chân lý “chùa nào mà chẳng có sư”, cái sự lạ “không sư” của chùa Keo Hành Thiện chẳng phải là nét riêng có, nét độc đáo để người ta tìm về mang theo niềm hướng thiện, nhất là về với mảnh đất địa linh, đất học nổi tiếng của vùng đất Xuân Trường.

Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục yếu tập, chùa Hành Thiện do thánh Không Lộ Thiền sư (1016 – 1094) xây cất. Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Tương truyền, khi ngài đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước, có tài thuần phục được rắn, hổ. Truyền thuyết còn kể rằng, trước khi viên tịch, ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biễn thành tượng.

Thánh tượng này nay còn lưu giữ trong hậu cung, quanh năm khóa kín cửa, cứ sau 12 năm, một chủ lễ và 4 viên chấp sự được cử ra để làm lễ trang hoàng tượng thánh. Những người được cắt cử làm nghi lễ tôn nghiêm này phải ăn chay, mặc quần áo mới, sau khi rước thánh tượng từ cấm cung ra mới dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm gội và tô son lại cho tượng thánh. Họ buộc phải giữ bí mật những điều đã thấy khi trang hoàng tượng thánh. Điều đó càng tạo nên lớp sương bí ẩn bao bọc quanh ngôi chùa nhiều huyền thoại.

Nguồn Diễn đàn Doanh nghiệp

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s