Thông báo về việc khai trương website của làng Hành Thiện

Với truyền thống quý báu của mình, làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường vẫn còn lưu giữ được những di tích lịch sử, văn hóa gắn liền với lịch sử dân tộc.

Cùng với sự phát triển của làng, người làng Hành Thiện đã tỏa đi khắp đất nước, khắp năm châu, nhưng vẫn luôn giữ được những nét riêng của mình. Các hội đồng hương hoạt động rất hiệu quả trong việc nối kết những người dân Hành Thiện…

Trong thời gian tới, để việc kết nối hiệu quả hơn, Ban liên lạc Hội đồng hương làng Hành Thiện với sự hỗ trợ của các bạn trẻ sẽ xây dựng trang mạng (website) chính thức của làng Hành Thiện tại địa chỉ www.langHanhThien.com. Với việc phát triển của CNTT, hi vọng website Hành Thiện sẽ là nơi để những người dân Hành Thiện ở bốn phương có thể thỏa nỗi nhớ quê hương…

Rất mong bà con cô bác, các nhà hảo tâm cũng như các bạn trẻ có khả năng, nhiệt tình, mong muốn đóng góp công sức cho quê hương cùng tham gia hỗ trợ Ban biên tập website

Thông tin liên hệ:

Ban liên lạc Hội đồng hương làng Hành Thiện

Địa chỉ : Trường Tiểu học A Xuân Hồng (Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định)
Điện thoại: (03503) 886 043 (Trường Tiểu học A Xuân Hồng)
hoặc 0168 314 1189 (Nguyễn Văn Ninh – BBT website)
Email : hanh_thien_village@yahoo.com hoặc hanhthienonline@gmail.com

Thông báo của blog Thông tin làng Hành Thiện:

Từ khi tôi giới thiệu thông tin về làng trên các diễn đàn, website, đến khi lập ra các blog langhanhthien.blogspot.com, langhanhthien.wordpress.com, facebook.com/langHanhThien,… đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ của bà con cô bác và các bạn muốn tìm hiểu về làng, muốn gặp gỡ, giao lưu với đồng hương. Tôi rất cảm kích trước những tấm lòng ấy.

Ông cha ta có câu: “Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao“, huống hồ, dân làng ta từ xưa đến nay đã có truyền thống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Khi còn ở làng thì “lá lành đùm lá rách”, khi đi xa thì lập hội đồng hương, hội tương tế… để giúp đỡ nhau nơi đất khách quê người.

Đến nay, với mong muốn cùng với các bạn có chung niềm đam mê, chung tình yêu với làng, tôi quyết định đóng cửa các blog này và chuyên tâm xây dựng website, diễn đàn làng Hành Thiện, thuộc sự quản lý của Ban liên lạc Hội đồng hương làng Hành Thiện, nhằm xây dựng một trang thông tin có chất lượng, uy tín, đáp ứng được nhu cầu của đông đảo bà con. Vì thế, rất mong mọi người tiếp tục ủng hộ, tham gia và tìm hiểu thêm thông tin về làng Hành Thiện qua website http://langHanhThien.com

Xin chân thành cảm ơn!

TỔNG KẾT 10 NĂM CHI HỌ ĐẶNG HÀNH THIỆN, NAM ĐỊNH

Cụ tổ Đặng Chính Pháp (Đặng Đại Lang) là con thứ 9 của Khâm quận công Đặng Thế Khanh, hậu duệ đời thứ 9 của tổ Trần Văn Huy (Đặng Hiên). Ngài từ huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây về Hành Thiện, Nam Định từ 1650. Tổ sinh ra 3 người con: tính đến nay truyền được 18 đời
1-Tổ Đặng Nhất Lang tự Phúc Lâm
2- Tổ Đặng Nhị Lang tự Kỳ Lão
3- Tổ Đặng Tam Lang tự Phúc Huệ
từ 3 cụ trên đến nay đã sinh ra nhiều chi họ Đặng có đệm khác nhau: Đặng Huy…, Đặng Xuân…, Đặng Đức…, Đặng Ngọc…, Đặng Văn…, Đặng Hữu…
Ngoài ra ở Hành Thiện còn có 1 chi Đặng Vũ xuất phát từ cụ Vũ Thiên Thể (lấy họ bố nuôi cũng là bố vợ sau này, còn họ Vũ của mình lấy đệm để không quên gốc họ cũ).
Do chính biến của lịch sử, do điều kiện sinh sống nên họ Đặng Hành Thiện đã đi lập nghiệp nhiều nơi (14 nơi) trong nhiều tỉnh thành trong cả nước (5 tỉnh) và ở nước ngoài. Qua 10 năm, họ Đặng Hành Thiện đã chắp nối thêm được:
1- Tổ Đặng Phúc Mỹ lập nghiệp Vũ Hội, Vũ Thư, Thái Bình đã truyền được 13,14 đời (khoảng hơn 300 năm).
2- Tổ Đặng Nho Tiến lập nghiệp Tân Liên, Gia Cát, Gia Lộc, Lạng Sơn truyền được 11, 12 đời.
3- Tổ Đặng Quang Diệu lập nghiệp Trực Lĩnh, Lộng Khê, Trực Ninh đã truyền được 11, 12 đời.
4- Tổ Đặng Khán Thể, Đặng Tế Thế về An Khê, An Hải, Hải Phòng truyền được 7, 8 đời
5- Tổ Đặng Đức Thực lập nghiệp Tam Cường, Phú Thọ truyền được 5, 6 đời.
6- Tổ Đặng Kim Toán lập nghiệp Giao An, Giao Thủy, Nam Định truyền được 7,8 đời
7- Tổ Đặng Đức Xiển về Giao Long, Giao Thủy, Nam Định truyền được 5 đời
8- Tổ Đặng Quý Công húy Chi về Nghĩa Hưng, Nghĩa Phong, Nam Định truyền được 6 đời
9- Tổ Đặng Bá Nghìn lập nghiệp Vĩnh Lộc, Thanh Hóa được 8 đời
10- Tổ Đặng Ngọc Khuê lập nghiệp Thanh Hóa được 5, 6 đời
11- Tổ Đặng Đức Địch lập nghiệp Thanh Nê, Kiến Xương, Thái Bình truyền được 6 đời
12- Tổ Đặng Văn Tâm về Nghĩa Trang, Hoàng Hóa, Thanh Hóa được 6 đời
13- Tổ Đặng Viết Đỗ về Đò Lèn, Hà Trung, Thanh Hóa được 7 đời
14- Tổ Đặng Vũ Kiểm về Thiện Thành, Tiền Hải, Thái Bình được 6 đời.

Đọc tiếp

Ngôi làng “cổ tích”

Tên ngôi làng “Hành Thiện” gắn với một câu chuyện đẹp về vị vua có trí và có đức – Vua Minh Mạng. Khi lên ngôi, yêu mến ngôi làng nhỏ có rất nhiều người đỗ đạt cao, người dân chân thật, hồn hậu, chuyên làm điều thiện, vua Minh Mạng đã ưu ái ban tặng cho làng 4 chữ sơn son thiếp vàng: “Mỹ tục khả phong” và đổi tên thành Hành Thiện.

Làng Hành Thiện thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Làng được chia thành 14 xóm, tương đương với 14 khúc trên mình con cá chép, mỗi xóm cách nhau đúng 60 mét (con số này chính xác đến từng milimet). Đây là nét rất độc đáo của ngôi làng cổ này. Bản đồ của làng được lập rất công phu, thể hiện trình độ học vấn và sự uyên thâm của các bậc tiền nhân. Ở chính giữa đầu cá có chữ Miếu, chính là miếu thờ thần dựng làng, xuống dưới một chút là chữ Thị – khu chợ, nơi tụ họp đông đúc, thể hiện nét văn hóa phồn thực của cư dân vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Nhìn về phía cuối bản đồ, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy chữ “Nội tự”, đây là ngôi chùa làng Hành Thiện (có tên gọi khác là chùa Keo Hành Thiện hay Thần Quang Tự).

Đọc tiếp

Sự tích Cửu công làng Hành Thiện

Khoảng Tây lịch 1740, đương Đời vua Lê Ý Tân, niên hiệu là Vĩnh Hựu thứ 6, Trịnh Doanh chuyên quyền, bốn phương rối loạn. Phía đông thời có Nguyễn Tuyến, Nguyễn Cừ ở xã Lịnh Xá, nổi quân làm loạn đã làm cho chúa Trịnh hao binh tổn tướng. Phía Nam lại có Vũ Đình Dung, người xã Ngân Già thuộc huyện Nam Châu (nay là Nam Trực), phủ Xuân Trường cùng với đàng tốt là Đoàn Chấn, Tư Cao giữ thôn Đà Ninh (thuộc xã Ngân Già là sào huyệt, trong đắp một cái hang rất kiên cố thừa cơ thường ra ăn cướp phố Nhân Ninh (nay là Trực Ninh).

Quan Đốc chấn ở Bạch Hạc là Hoàng Kim Tảo cùng với bộ thuộc là Nguyễn Đức Siêu, Trần Danh Quán đem binh đến đánh thua trận đề bị chết. Từ đấy thế quân nghịch càng mạnh, đồ đảng đều là quân hung tợn, không sợ chết, gặp quan quân kéo đến chỉ cầm giao tay, xông ra trận chém văng mạng, vậy nên quan quân đénh mười bảy trận đều bị thua. Chúa Trịnh bèn đổi chiến lược, đem quân sĩ kéo về Nam đánh Ngân Già để tuyệt sào huyệt của quân nghịch.Khi Chúa Trịnh cùng chư tướng kéo về Nam qua làng Vũ Điện, huyện Nam Sang đóng quân lại một đêm. Ngày mai kéo đến sông Vị hoàng tiến lên tổng Đỗ Xá, huyện Giao Thủy; bấy giờ Đinh Văn Nhai, Nguyễn Đình Hoàn, Vũ Tất Thuận, Tương Thuông mỗi người giữ một đạo, Trịnh Doanh cưỡi voi đi trước kéo thẳng vào thôn Đà Linh, đại binh tiến đến vây bốn mặt, trận đánh rất kịch liệt. Bên nghịch bốn vạn quân bị chết quá nửa, thôn Đà Ninh, máu người lai láng. Vũ Đình Dung đã bị trọng thương, nhưng vẫn còn khảng khái, xông vào trước trận đâm chết quan quân hơn trăm người, quan quân sợ chạy, Đinh Văn Nhai la truyền ba quân rằng: “quân ta đừng sợ chết, lập công báo chúa ở ngày hôm nay, thằng nào chạy chém đầu làm lệnh”. Chúng nghe lệnh đều lại hăng hái xông vào trước trận vây đánh rất dữ và đâm chết được Dung.

Dẹp xong quân nghịch, Chúa Trịnh mới tước khứ tên xã Ngân Già làm xã Lai Cách. Xã Ngân Già thuộc về phủ Xuân, cách xã Hành Cung (nay là Hành Thiện) cũng không xa mấy. Đương bấy giờ chỉ huy Lén, thiên hộ Định đều là người xã Hành Cung theo hầu ở phủ Chúa Trịnh, ỷ thế chuyên quyền, về làng hách dịch, huynh thứ trong làng ai cũng ghét mắng nhiếc hai tên ấy. Từ đấy lũ tên Lén để lòng hiềm khích, nhân việc giặc Dung, muốn trả thù huynh thứ, chúng bèn bày vẽ với Chúa Trịnh rằng: huynh thứ thông với bọn giặc Chúa Trịnh tưởng thật cho bắt bọn huynh thứ thông giặc nếu dân làng giấu diếm thì triệt hạ cả làng. Dân sự ai cũng lấy làm lo sợ.Trong làng huynh thứ là ông Đặng Khắc Tướng, Nguyễn Thiện tất cả 10 người bàn với nhau rằng “Lệnh Chúa nghiêm ngặt, nếu không ai ra, sợ Chúa sai quân về tàn phá, lại hại cả làng, bất nhược ta đánh liều lên kinh làm giấy khiếu nại oan, may mà Chúa có lòng minh xét không nghe lũ kia vu cáo thì là hạnh phúc thứ nhất, bằng không may thì dẫu phải hy sinh cho hương tộc cũng cam lòng”. Trong 10 người, ông Nguyễn Thiện dùi dắng không muốn đi còn chín ông đều khẳng khái ra đi, đến phủ Chúa Trịnh kêu oan, chúa Trịnh liền sai quân đem chém, duy có ông Nguyễn Thiện nói dối ở nhà lo tiền rồi trốn mất.Chín ông bị chết; tên Lén, tên Định lấy làm đắc chí mượn thế Chúa Trịnh đem quân về đốt phá chín nhà ông ấy, ruộng nương của chín ông thì chúng chỉ làm ngụy điền, tịch ký làm của công, còn dân làng thì không ai bị thiệt hại gì cả.

Không bao lâu tên Định, tên Lén đều chết, điền sản của các ông ấy lại được phúc nguyên cũ, mà con cháu đến nay vẫn được thịnh vượng, còn dòng dõi tên Lén, tên Định tuyệt diệt đã lâu. Thế mới biết trời gần.Tính danh chín ông ấy như sau:

1/ Đặng Khắc Tướng, Quốc tử giám giám sinh.
2/ Phạm Bá Hiệu, huyện thừa huyện Yên Mô,
3/ Phạm Trọng Huyện, huyện thừa châu Điện Bàn,
4/ Đặng Bá Tích, phó sở xứ
5/ Đặng Trọng Đôn, phó sở xứ
6/ Đặng Nho Cẩn. phó sở xứ
7/ Lã Đăng Đạo, tri sự,
8/ Đặng Phạm Tế, tri sự
9/ Đặng Chấn Thuyên

Trích ở Đông Thanh tạp chí số 28 ngày 15-8-1933trang 742 xuất bản tại Hà Nội

Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện

Dưới đây là phóng sự Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện được Sở VHTT tỉnh Nam Định thực hiện vào tháng 3-2007, mời các bạn cùng theo dõi, bài cũng được đăng tại NDOL:

Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức vào rằm tháng 9 âm lịch hằng năm tại Ngôi chùa “Thần Quang Tự” hay còn gọi là Chùa Keo để mừng sinh nhật của vị thánh Không Lộ Thiền Sư (Dương Không Lộ).
Độc đáo nhất có lẽ là môn đua thuyền trải: có 15 xóm trong làng tham gia đua thuyền hay gọi là bơi trải, có tất cả 10 người trên thuyền trong đó có 1 người lái thuyền. Bơi trải ở Chùa Keo Hành Thiện Nam Định khác với các nơi khác, họ không ngồi bơi mà 10 người đểu đứng để chèo. Bắt đầu xuất ở trong sông con là sông làng khoảng 5-6km rồi bắt đầu ra đến sông Ninh Cơ nhánh của sông Hồng, bơi 3.5 Vòng sông rồi quay về bắt Têu trong sông con nếu đội nào về đầu thì sẽ dành giải nhất. Trung bình mỗi cuộc thi bơi trải diễn ra từ 3.5 – 4 h đồng hồ) Đây là môn thi đấu cổ truyền rất tuyệt vời đáng được ghi nhớ cũng như lưu trong sử sách của Dân tộc ta, và vẻ đẹp của nói khó ở môn thi nào có được.

Đất khoa bảng, quê mỹ nhân

Những tưởng câu nói: “Bắc Hà, Hành Thiện, Quan Diễn, Quỳnh Lôi” nói về các “miền gái đẹp” như vùng đất sông Lô nhưng hóa ra đây lại là câu vinh danh đất học và khoa bảng. Một làng có truyền thống hiếu học và nhiều người thành đạt, lại là nơi có lắm mỹ nhân…

Trong đêm chung kết cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Việt 2007, có một điều bất ngờ đầy thú vị là một người con làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, vùng đất nổi danh khoa bảng trở thành Á hậu 2, đó là Đặng Minh Thu. Trước đấy, hai Hoa hậu Việt Nam Nguyễn Diệu Hoa (1990) và Nguyễn Thu Thủy (1994) cũng là người quê ở Hành Thiện.

14_duong699Đường vào xóm 7 làng Hành Thiện

Quê hương những người đẹp

Vượt qua thành phố Nam Định khoảng 30 km, chúng tôi có mặt ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường vào một buổi sáng. Trời mưa to nên đường làng vắng lặng, thoảng có người qua thì lại trùm kín áo mưa nên đi mãi mà chúng tôi vẫn chưa có cơ may được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các cô gái làng.

Đọc tiếp

Thiền Sư KHÔNG LỘ

Thiền sư Không Lộ

(? – 1119)

(Đời thứ 9, dòng Vô Ngôn Thông)

Sư họ Dương, không rõ tên thật là gì, quê ở làng Hải Thanh. Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề ấy đi tu đạo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Sư theo Thiền sư Lôi Hà Trạch xuất gia, cùng làm bạn với Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.

Phong cách Sư thoát tục, ăn mặc thế nào xong thôi, không vướng mắc vật chất thường tình, chỉ tinh chuyên Thiền định, trải bao năm tu tập, ăn cây mặc cỏ, quên cả thân mình.

Sau khi đắc đạo, Sư có thể bay trên không, hoặc đi trên mặt nước, cọp thấy phải cúi đầu, rồng gặp cũng nép phục. Những pháp thuật thần bí của Sư không đo lường được.

Đến ngày 3 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ mười (1119) đời Lý Nhân Tông, Sư viên tịch. Môn đồ làm lễ hỏa táng, thu xá-lợi, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang(1) là nơi Sư trụ trì.

Tác phẩm của Sư có bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư Nhàn.

Kệ Ngôn Hoài

Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư.
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Dịch:

Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,
Cả buổi tình quê những mảng vui.
Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,
Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.

(Ngô Tất Tố)

Thơ Ngư Nhàn

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên.
Ngư ông thùy trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

Dịch:

Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời,
Một làng dâu giá, một làng hơi.
Ông chài mê ngủ, không người gọi,
Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.


(1) Thiền sư Không Lộ chùa Nghiêm Quang: Chùa Nghiêm Quang đổi tên là Thần Quang (1167), nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị hủy hoại vì bão lụt. Năm 1630 dân sở tại dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, thường gọi là chùa Keo dưới.

Theo Phật sự Thường Chiếu